Hiển thị các bài đăng có nhãn Điều khiển máy từ xa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Điều khiển máy từ xa. Hiển thị tất cả bài đăng

15/11/06

Remote Assistance trong Windows

Hướng dẫn và minh họa chi tiết bằng hình ảnh thao tác Remote Assistance trong Windows

-Tài liệu do centos4 tổng hợp và biên soạn

Tải về máy

(sưu tầm)

Hướng dẫn cài đặt VPN cơ bản từ A-Z

Các bạn yêu thích và có hứng thú với mô hình VPN có thể xem đây như là một sự khởi đầu.
Tài liệu rõ ràng, nhiều hình ảnh minh họa, thích hợp cho mọi người.

Tải tài liệu về


Tài liệu này do centos4 tổng hợp và biên soạn.

13/11/06

Tìm hiểu mạng riêng ảo VPN

Phần 1:

Giải pháp VPN (Virtual Private Network) được thiết kế cho những tổ chức có xu hướng tăng cường thông tin từ xa vì địa bàn hoạt động rộng (trên toàn quốc hay toàn cầu). Tài nguyên ở trung tâm có thể kết nối đến từ nhiều nguồn nên tiết kiệm được được chi phí và thời gian.

Khái niệm

Về cơ bản, VPN là một mạng riêng sử dụng hệ thống mạng công cộng (thường là Internet) để kết nối các địa điểm hoặc người sử dụng từ xa với một mạng LAN ở trụ sở trung tâm. Thay vì dùng kết nối thật khá phức tạp như đường dây thuê bao số, VPN tạo ra các liên kết ảo được truyền qua Internet giữa mạng riêng của một tổ chức với địa điểm hoặc người sử dụng ở xa.

Các loại VPN

Có hai loại phổ biến hiện nay là VPN truy cập từ xa (Remote-Access ) và VPN điểm-nối-điểm (site-to-site)

VPN truy cập từ xa còn được gọi là mạng Dial-up riêng ảo (VPDN), là một kết nối người dùng-đến-LAN, thường là nhu cầu của một tổ chức có nhiều nhân viên cần liên hệ với mạng riêng của mình từ rất nhiều địa điểm ở xa. Ví dụ như công ty muốn thiết lập một VPN lớn phải cần đến một nhà cung cấp dịch vụ doanh nghiệp (ESP). ESP này tạo ra một máy chủ truy cập mạng (NAS) và cung cấp cho những người sử dụng từ xa một phần mềm máy khách cho máy tính của họ. Sau đó, người sử dụng có thể gọi một số miễn phí để liên hệ với NAS và dùng phần mềm VPN máy khách để truy cập vào mạng riêng của công ty. Loại VPN này cho phép các kết nối an toàn, có mật mã.
Hình minh họa cho thấy kết nối giữa Văn phòng chính và "Văn phòng" tại gia hoặc nhân viên di động là loại VPN truy cập từ xa).

VPN điểm-nối-điểm là việc sử dụng mật mã dành cho nhiều người để kết nối nhiều điểm cố định với nhau thông qua một mạng công cộng như Internet. Loại này có thể dựa trên Intranet hoặc Extranet.

Loại dựa trên Intranet: Nếu một công ty có vài địa điểm từ xa muốn tham gia vào một mạng riêng duy nhất, họ có thể tạo ra một VPN intranet (VPN nội bộ) để nối LAN với LAN.

Loại dựa trên Extranet: Khi một công ty có mối quan hệ mật thiết với một công ty khác (ví dụ như đối tác cung cấp, khách hàng...), họ có thể xây dựng một VPN extranet (VPN mở rộng) kết nối LAN với LAN để nhiều tổ chức khác nhau có thể làm việc trên một môi trường chung.

Bảo mật trong VPN

Tường lửa (firewall) là rào chắn vững chắc giữa mạng riêng và Internet. Bạn có thể thiết lập các tường lửa để hạn chế số lượng cổng mở, loại gói tin và giao thức được chuyển qua. Một số sản phẩm dùng cho VPN như router 1700 của Cisco có thể nâng cấp để gộp những tính năng của tường lửa bằng cách chạy hệ điều hành Internet Cisco IOS thích hợp. Tốt nhất là hãy cài tường lửa thật tốt trước khi thiết lập VPN.

Mật mã truy cập là khi một máy tính mã hóa dữ liệu và gửi nó tới một máy tính khác thì chỉ có máy đó mới giải mã được. Có hai loại là mật mã riêng và mật mã chung.
Mật mã riêng (Symmetric-Key Encryption): Mỗi máy tính đều có một mã bí mật để mã hóa gói tin trước khi gửi tới máy tính khác trong mạng. Mã riêng yêu cầu bạn phải biết mình đang liên hệ với những máy tính nào để có thể cài mã lên đó, để máy tính của người nhận có thể giải mã được.

Mật mã chung (Public-Key Encryption) kết hợp mã riêng và một mã công cộng. Mã riêng này chỉ có máy của bạn nhận biết, còn mã chung thì do máy của bạn cấp cho bất kỳ máy nào muốn liên hệ (một cách an toàn) với nó. Để giải mã một message, máy tính phải dùng mã chung được máy tính nguồn cung cấp, đồng thời cần đến mã riêng của nó nữa. Có một ứng dụng loại này được dùng rất phổ biến là Pretty Good Privacy (PGP), cho phép bạn mã hóa hầu như bất cứ thứ gì.

Giao thức bảo mật giao thức Internet (IPSec) cung cấp những tính năng an ninh cao cấp như các thuật toán mã hóa tốt hơn, quá trình thẩm định quyền đăng nhập toàn diện hơn.
IPSec có hai cơ chế mã hóa là Tunnel và Transport. Tunnel mã hóa tiêu đề (header) và kích thước của mỗi gói tin còn Transport chỉ mã hóa kích thước. Chỉ những hệ thống nào hỗ trợ IPSec mới có thể tận dụng được giao thức này. Ngoài ra, tất cả các thiết bị phải sử dụng một mã khóa chung và các tường lửa trên mỗi hệ thống phải có các thiết lập bảo mật giống nhau. IPSec có thể mã hóa dữ liệu giữa nhiều thiết bị khác nhau như router với router, firewall với router, PC với router, PC với máy chủ.

Máy chủ AAA

AAA là viết tắt của ba chữ Authentication (thẩm định quyền truy cập), Authorization (cho phép) và Accounting (kiểm soát). Các server này được dùng để đảm bảo truy cập an toàn hơn. Khi yêu cầu thiết lập một kết nối được gửi tới từ máy khách, nó sẽ phải qua máy chủ AAA để kiểm tra. Các thông tin về những hoạt động của người sử dụng là hết sức cần thiết để theo dõi vì mục đích an toàn.

Sản phẩm công nghệ dành cho VPN

Tùy vào loại VPN (truy cập từ xa hay điểm-nối-điểm), bạn sẽ cần phải cài đặt những bộ phận hợp thành nào đó để thiết lập mạng riêng ảo. Đó có thể là:
- Phần mềm cho desktop của máy khách dành cho người sử dụng từ xa.- Phần cứng cao cấp như bộ xử lý trung tâm VPN hoặc firewall bảo mật PIX.
- Server VPN cao cấp dành cho dịch vụ Dial-up.
- NAS (máy chủ truy cập mạng) do nhà cung cấp sử dụng để phục vụ người sử dụng từ xa.
- Mạng VPN và trung tâm quản lý.

Bộ xử lý trung tâm VPN

Có nhiều loại máy xử lý VPN của các hãng khác nhau, nhưng sản phẩm của Cisco tỏ ra vượt trội ở một số tính năng. Tích hợp các kỹ thuật mã hóa và thẩm định quyền truy cập cao cấp nhất hiện nay, máy xử lý VPN được thiết kế chuyên biệt cho loại mạng này. Chúng chứa các module xử lý mã hóa SEP, cho phép người sử dụng dễ dàng tăng dung lượng và số lượng gói tin truyền tải. Dòng sản phẩm có các model thích hợp cho các mô hình doanh nghiệp từ nhỏ đến lớn (từ100 cho đến 10.000 điểm kết nối từ xa truy cập cùng lúc).

Router dùng cho VPN

Thiết bị này cung cấp các tính năng truyền dẫn, bảo mật. Dựa trên hệ điều hành Internet IOS của mình, hãng Cisco phát triển loại router thích hợp cho mọi trường hợp, từ truy cập nhà-tới-văn phòng cho đến nhu cầu của các doanh nghiệp quy mô lớn.

Tường lửa PIX của Cisco

Firewall trao đổi Internet riêng (Private Internet Exchange) bao gồm một cơ chế dịch địa chỉ mạng rất mạnh, máy chủ proxy, bộ lọc gói tin, các tính năng VPN và chặn truy cập bất hợp pháp.
Thay vì dùng IOS, thiết bị này có hệ điều hành với khả năng tổ chức cao, xoay sở được với nhiều giao thức, hoạt động rất mạnh bằng cách tập trung vào IP.

Xem toàn bộ bài viết:
Tải về

Bạn cần điều gì để biết về công nghệ VPN


Chúng làm việc như thế nào, chúng có thể làm gì cho bạn và các vấn đề cần chú ý.

Virtual Private Network (VPN) - Mạng riêng ảo đã mở rộng phạm vi của các mạng LAN (Local Area Networks) mà không cần bất kì đường dây riêng nào. Các hãng thương mại có thể dùng VPNs để cung cấp quyền truy cập mạng cho người dùng di động và từ xa, kết nối các chi nhánh phân tán về mặt địa lí thành một mạng duy nhất và cho phép sử dụng từ xa các trình ứng dụng dựa trên các dịch vụ trong công ty.

VPNs có thể sử dụng một hoặc cả hai kỹ thuật: dùng các kênh thuê bao riêng của các nhà cung cấp dịch vụ (cái này gọi là một Trusted VPN) hoặc gửi các dữ liệu đã được mã hóa lên mạng Internet (cái này gọi là Secure VPN). Dùng một Secure VPN qua một Trusted VPN thì gọi là Hybrid VPN. Kết hợp cả hai loại của Secure VPN trong một cổng vào, chẳng hạn như IPsec và SSL cũng gọi là Hybrid VPN.

Trusted VPN

Qua nhiều năm, các Trusted VPN đã có sự thay đổi từ các thuê bao riêng từ các đại lý viễn thông đến các thuê bao IP riêng từ các nhà cung cấp dịch vụ Internet. Công nghệ chủ yếu của sự vận hành của Trusted VPN với mạng địa chỉ IP là các kênh ATM, mạch tiếp sóng khung, và MPLS.

ATM và bộ tiếp sóng khung hoạt động tại tầng liên kết dữ liệu, là tầng 2 trong mô hình OSI (tầng 1 là tầng vật lý, tầng 3 là tầng mạng). MPLS mô phỏng một số thuộc tính của mạng chuyển mạch và mạng chuyển gói. Nó hoạt động cùng một tầng, thường được coi là tầng “2,5” vì nó nằm ngay giữa tầng liên kết và tầng mạng. MPLS bắt đầu thay thế ATM và bộ tiếp sóng khung để thực thi Trusted VPN với lượng lớn các doanh nghiệp và nhà cung cấp dịch vụ.

Secure VPN

Secure VPN có thể dùng IPsec trong việc mã hoá. IPsec nằm trong giao thức L2TP (Layer 2 Tunneling Protocol), trong thành phần SSL (Secure Sockets Layer) 3.0 hay trong TLS (Transport Layer Security) với bộ mã hoá, L2F (Layer Two Forwarding) hay PPTP (Point-to-Point Tunneling Protocol). Chúng ta hãy xem qua các thành phần chính này.

IPsec hay IP security – là tiêu chuẩn cho sự mã hoá cũng như cho thẩm định các gói IP tại tầng mạng. IPsec có một tập hợp các giao thức mật mã với 2 mục đích: an ninh gói mạng và thay đổi các khoá mật mã. Mộ số chuyên gia an ninh như Bruce Schneier của Counterpane Internet Security, đã xem IPsec như là một giao thức cho VPNs từ cuối những năm 1990. IPsec được hỗ trợ trong Windows XP, 2000, 2003 và Vista; trong Linux 2.6 và các phiên bản sau; trong Mac OS X, Net BDS, FreeBDS và OpenBDS, trong Solari, AIX, và HP-UX, trong VxWorks. Nhiều đã cung cấp dịch vụ IPsec VPN server và IPsec VPN client.

Microsoft đã triển khai PPTP client trong tất cả các phiên bản của Windows kể từ Windows 95 OSR2 và PPTP server trong tất cả các sản phẩm máy chủ từ Windows NT 4.0. PPTP client cũng nằm trong Linux, Mac OS X, các thiết bị Palm PDA và các thiết bị Windows Mobile 2003.

PPTP rất phổ biến, nhất là trên các hệ thống của Windows. Bởi vì nó có thể dùng rộng rãi, miễn phí và dễ cài đặt. Tuy nhiên khi được triển khai bởi Microsoft, nó không phải là thành phần an toàn nhất của Secure VPN.

Schneier với “Mudge” của L0pht Heavy Industries đã tìm thấy và công bố các thiếu sót trong Microsoft PPTP vào năm 1998. Microsoft đã nhanh chóng sửa chữa các vấn đề này với MS-CHAPv2 và MPPE. Sau đó Scheier với Mudge đã công bố một bản phân tích kiểm chứng các cải tiến vào năm 1999, nhưng chỉ ra rằng an toàn của Microsoft PPTP vẫn phụ thuộc vào an toàn mật khẩu mỗi người dùng. Microsoft đã địa chỉ hoá nguồn cung cấp này bằng cách ép quy ước độ mạnh của mật khẩu vào trong hệ điều hành. Nhưng Shneier và Mudge vẫn cho rằng nên để IPsec là kẻ thừa kế Secure VPN hơn là PPTP.

L2F là giao thức được phát triển muộn hơn bởi hãng Cissco. L2TP là sự kết hợp ý tưởng của L2F và PPTP để tạo ra một giao thức tầng liên kết dữ liệu. Giao thức này cung cấp một tunnel (đường dẫn ảo), nhưng không an toàn và có sự kiểm định. L2TP có thể mang các session PPP trong tunnel. Cissco đã triển khai L2TP trong các router của nó. Có một vài bổ sung mã nguồn mở của L2TP trong Linux.

L2TP/IPsec kết hợp đường dẫn ảo của L2TP với kênh an toàn của IPsec. Nó cho phép thay đổi Internet Key Exchange dễ dàng hơn so với thuần IPsec . Microsoft đã cung cấp một bản VPN client L2TP/IPsec miễn phí cho Windows 98, ME, và NT từ năm 2002, và gắn một VPN client L2TP/IPsec cho Windows XP, 2000, 2003 và Vista. Windows server 2003 và Windows 2000 server có L2TP/IPsec server.

SSL và TLS là các giao thức cho luồng dữ liệu an toàn tại tầng 4 của mô hình OSI.. SSL 3.0 và TLS 1.0 là các bản thừa kế được dùng phổ biến với HTTP nhằm cho phép bảo vệ các đường dẫn Web an toàn, gọi là HTTPS. Tuy nhiên SSL/TLS cũng được dùng để tạo ra một đường dẫn ảo tunnel VPN. Ví dụ: OpenVPN là một gói VPN nguồn mở cho Linux, xBSD, Mac OS X, Pocket PCs và Windows 2000, XP, 2003, và Vista. Nó dùng SSL để cung cấp mã hoá cho cả dữ liệu và kênh điều khiển. Một vài hãng đã cung cấp SSL VPN server và client.

Lợi nhuận và sự rủi ro an ninh của VPNs

Một mạng riêng ảo có thể xoá bỏ các hàng rào địa lí trong kinh doanh, cho phép các nhân viên làm việc một cách hiệu quả tại nhà và cho phép một doanh nghiệp kết nối một cách an toàn tới các đại lý của họ cùng các hãng hợp tác. Một mạng riêng ảo thường rẻ hơn và có hiệu quả hơn các đường riêng ảo.

Nhưng mặt khác, cách dùng của một VPN có thể phô bày các rủi ro an ninh tiềm ẩn. Trong khi hầu hết các mạng riêng ảo đang được dùng khá an toàn thì một mạng riêng ảo cũng có thể làm cho chính nó khó phá hoại hơn bằng cách bảo vệ tham số của mạng một cách thích hợp. Phận sự của người quản trị mạng là áp dụng các tiêu chuẩn an ninh giống nhau trong việc kết nỗi các máy tính tới mạng thông qua VPN khi các máy tính kết nối trực tiếp vào mạng LAN.

Kết hợp đồng thời cách dùng của cả hai kiểu VPNs có thể thấy được tiềm năng mạng của công ty này với công ty khác. Thêm vào đó, sử dụng phần mềm điều khiển từ xa như PC Anywhere, GoToMyPC hay VNC kết hợp với một VPN có thể khai thác được khả năng mạng của công ty tới các malware trong một mắy trạm xa không kết nối VPN.

Sự tin cậy, sự co giãn và sự thực thi của VPNs

Bởi Secure VPN sử dụng mã hoá, và vì một số hàm mật mã được dùng khá là đắt tiền nên một VPN được dùng khá nặng có thể tải xuống server của nó. Đặc thù của người quản trị là quản lí việc tải server bằng cách giới hạn số kết nối đồng thời để biết server nào có thể điều khiển.

Khi số người cố gắng kết nối tới VPN đột nhiên tăng vọt đến đỉnh điểm, phá vỡ hết quá trình truyền tin, các nhân viên cũng thấy chính họ không thể kết nối được.Vì tất cả các cổng của VPN đều bận. Điểu đó chính là động cơ thúc đẩy người quản trị tạo ra các khoá ứng dụng làm việc mà không đòi hỏi VPN. Chẳng hạn thiết lập dịch vụ proxy hoặc dịch vụ Internet Message Access Protocol để cho phép nhân viên truy cập e-mail từ nhà hay trên đường.

Quyết định giữa IPsec hay SSL/TLS để có viễn cảnh như thế nào có thể rất rắc rối. Một điều cần cân nhắc là SSL/TLS có thể làm việc thông qua một tường lửa dựa trên NAT. IPsec thì không. Nhưng cả hai giao thức làm việc qua tường lửa thì sẽ không dịch được địa chỉ.

IPsec mã hoá tất cả các lưu lượng IP truyền tải giữa hai máy tính. SSL/TLS thì đặc tả một ứng dụng. SSL/TLS dùng các hàm mã hoá không đối xứng để thiết lập kết nối. Nó bảo vệ hiệu quả hơn là dùng các hàm mã hoá đối xứng.

Trong các ứng dụng từ xa ở thế giới thực, người quản trị có thể quyết định kết hợp và ghép các giao thức để tạo ra sự cân bằng tốt nhất cho sự thực thi và độ an toàn. Ví dụ, các client có thể kết nối tới một Web-based thông qua tương lửa dùng đường dẫn an toàn của SSL/TLS. Web server có thể kết nối tới một dịch vụ ứng dụng dùng IPsec, và dịch vụ ứng dụng có thể kết nối tới một cơ sở dữ liệu ngang qua các tường lửa khác cũng dùng SSL.

Sự co giãn của VPNs đôi khi có thể được chứng minh bởi cách dùng dành cho các dịch vụ phần cứng. Tuy nhiên để làm được điều đó chúng ta phải vượt qua được các mục đích cạnh tranh của các hãng VPN. Có lẽ đó sẽ là chủ đề cho một ngày khác.

Mạng riêng ảo duy trì một danh sách thành viên của nó, một bảng các thành phần của IPsec, và một bảng các thành phần của SSL VPN với sự đóng góp của mỗi hãng kinh doanh. VPNC cũng cung cấp các CA với các chứng chỉ cơ bản , miễn phí, nguồn mở thẩm định qua gói cho người quản trị.

(st)

Mười mẹo bảo vệ mạng riêng ảo client

Mạng riêng ảo (VPN) ngày càng khẳng định được ưu thế lợi nhuận trong hiệu suất và giá cả của mình. Bạn có thể cung cấp quyền truy cập mạng từ xa cho nhân viên tin cậy hay các nhà đấu thầu giải pháp qua một mạng riêng ảo. Khoảng cách địa lý giờ không còn là vấn đề đáng ngại nữa.

Cùng với những bước phát triển mở rộng, bảo mật mạng đòi hỏi phải có các biện pháp tinh tế hơn, khéo léo hơn. Chỉ cần một máy từ xa mất quyền kiểm soát cũng có thể tạo ra con đường thâm nhập hấp dẫn và nguy hiểm cho những kẻ tấn công.

Dưới đây là 10 mẹo nhỏ chúng tôi xin cung cấp nhằm giúp bạn bảo mật an toàn mà vẫn đảm bảo yếu tố lợi nhuận từ các mạng riêng ảo VPN.

1. Sử dụng phương thức thẩm định quyền truy cập VPN mạnh nhất.

Chính xác là phương thức nào thì còn phụ thuộc vào từng cơ sở hạ tầng mạng. Bạn nên kiểm tra tài liệu hướng dẫn trong VPN hay hệ điều hành để xác định phương thức phù hợp nhất.

Nếu như mạng sử dụng server Microsoft thì phương thức thẩm định an toàn nhất là Extensible Authentication Protocol (Giao thức thẩm định mở rộng) và Transport Level Security (Bảo mật mức truyền vận), còn gọi là EAP-TLS. Chúng được sử dụng với các thẻ thông minh (smart card). Phương thức này đòi hỏi phải có một cơ sở hạ tầng khóa phổ biến (PKI), có thể mã hoá và phân phối toàn bộ thẻ thông minh một cách an toàn. Các giao thức Microsoft Challenge Handshake Authentication Protocol Version 2 (MS-CHAP v2) và Extensible Authentication Protocol (EAP) là sự lựa chọn tốt nhất cho các phương thức thẩm định bảo mật tiếp theo.

Các bạn không nên lựa chọn giao thức Password Authentication Protocol (PAP) - giao thức thẩm định mật khẩu, giao thức Shiva Password Authentication Protocol (SPAP) - giao thức thẩm định mật khẩu Shiva và giao thức thẩm định Handshake Challenge (CHAP), chúng quá yếu, không đảm bảo an toàn cho mạng của bạn.

2. Sử dụng phương thức mã hoá quyền truy cập VPN mạnh nhất.

Với mạng sử dụng server Microsoft, bạn nên dùng phương thức Layer Two Tunneling Protocol (L2TP) thực hiện với Internet Protocol security (IPsec -bảo mật giao thức Internet). Giao thức Point-to-Point Tunneling (PPTP) quá yếu, trừ phi mật khẩu client của bạn bảo đảm đủ mạnh (xem mẹo 6). OpenVPN, một mạng riêng ảo tầng sockert đơn (Single Socket Layer - SSL) có thể chạy với bộ thẩm định phiên cơ sở TLS, chương trình mã hoá Blowfish hay AES-256 và bộ thẩm định SHA1 của dữ liệu đường hầm.

3. Giới hạn quyền truy cập VPN với lý do thương mại hợp lý và chỉ khi cần thiết.

Kết nối mạng VPN là cánh cửa cho mạng LAN, chỉ nên mở khi cần thiết. Bạn nên giới hạn các nhân viên từ xa kết nối VPN cả ngày để check e-mail (xem mẹo 5). Với cả các nhà đấu thầu cũng nên ngăn việc kết nối tới VPN để download các file cần thiết thông thường (xem mẹo 4).

4. Cung cấp quyền truy cập các file được chọn qua mạng Intranet hay Extranet thay vì VPN.

Một website bảo mật HTTP Secure (HTTPS) với bộ thẩm định mật khẩu an toàn chỉ đưa các file được chọn lên một server đơn chứ không phải lên toàn bộ mạng, và có độ co giãn tốt hơn VPN.

5. Cho phép truy cập e-mail mà không cần truy cập vào VPN.

Trên server Microsoft Exchange, bạn nên cài proxy server Exchange để cho phép Outlook truy cập Exchange qua giao thức gọi thủ tục từ xa (RPC) ở HTTP. Thành phần này được bảo vệ bằng giao thức mã hoá SSL.

Với các dịch vụ e-mail khác, bạn có thể sử dụng giao thức Post Office Protocol (POP3) cùng giao thức nhận mail Internet Message Access Protocol (IMAP) hoặc giao thức gửi mail Simple Mail Transfer Protocol (SMTP). Bạn cũng nên sử dụng bộ thẩm định an toàn mật khẩu (SPA) và chương trình mã hoá SSL để chứng minh tính bảo mật cho các hệ thống mail này. Secure Web mail là một lựa chọn khác cho các nhân viên từ xa, nhất là khi họ đang đi du lịch hay sử dụng máy tính của người khác.

6. Thực thi và ép buộc nhân viên thực hiện chính sách mật khẩu an toàn.

Nếu vắng mặt chương trình thẩm định hai yếu tố (thẻ thông minh và biometrics), mạng của bạn sẽ chỉ an toàn tương ứng với mức mật khẩu yếu nhất.

Bạn không nên giữ quá lâu một mật khẩu mà nên thường xuyên thay đổi chúng, ít nhất 3 tháng 1 lần. Đừng sử dụng một từ tìm thấy trong từ điển hay một số liên quan đến điện thoại, mã số bảo mật xã hội, tên người thân trong gia đình, tên con vật nuôi để làm mật khẩu.

Mật khẩu nên thật khó hiểu, khó đoán ngay cả với các thành viên trong gia đình. Nó cũng không nên ngắn quá.

Tạo được yếu tố an toàn trong mật khẩu là một bước rất quan trọng.

7. Cung cấp chương trình diệt virus, chống spam, tường lửa cá nhân cho người dùng từ xa và yêu cầu họ sử dụng chúng.

Mỗi máy tính kết nối đầy đủ với VPN (xem mẹo 8) đều có thể phát tán chương trình độc hại qua mạng, tiềm ẩn nhiều nguy cơ ngắt giao dịch thương mại của công ty. Vì vậy bạn nên cung cấp các chương trình antivirus, antispam, firewall cá nhân cho nhân viên và yêu cầu họ phải sử dụng chúng.

8. Cách ly người dùng để kiểm chứng mức an toàn trong máy tính của họ trước khi cho phép kết nối vào mạng VPN.

Khi một máy tính khách hàng bắt đầu phiên làm việc VPN, nó sẽ không được quyền truy cập đầy đủ vào mạng tới khi nào được kiểm tra xong độ an toàn. Phần kiểm tra có thể là xác định dấu vết antivirus, antispam hiện tại; kiểm tra bản vá lỗi hệ điều hành đầy đủ, sửa chữa các lỗi bảo mật nghiêm trọng; phần mềm điều khiển từ xa không hoạt động; các keylogger hay Trojan.

Mặt hạn chế ở phương thức này là người dùng sẽ bị trễ mất vài phút khi muốn làm một số việc nào đó. Bạn có thể khắc phục bằng cách ghi nhớ lịch quét trong máy tính và giảm tần số quét xuống một vài ngày so với lần quét trước.

9. Cấm sử dụng mạng riêng ảo hay phần mềm điều khiển từ xa khác khi đang kết nối tới mạng của bạn.

Điều cuối cùng cần cho mạng của bạn là phân biệt nó với các mạng khác. Hầu hết phần mềm VPN thiết lập phần định hướng cho khách hàng sử dụng cổng vào mặc định, sau khi kết nối mặc định. Nhưng thường điều đó là tuỳ ý, không bắt buộc.

Khi tất cả lưu lượng của trình duyệt Internet liên quan đến công việc đểu được định tuyến qua mạng, tốc độ truyền tải trở nên chậm chạp đến mức thật khó chịu đựng. Thường khi đó các nhân viên từ xa chỉ muốn tắt tuỳ chọn này. Nhưng như thế cũng có nghĩa là thủ tiêu luôn chương trình bảo vệ trước các website độc hại mà đã thiết lập ở proxy hay gateway.

Một tường lửa cá nhân và một client proxy firewall cho phép các nhân viên có chế độ truy cập mạng từ xa an toàn mà không làm giảm tốc độ kết nối Internet của họ. Bạn cũng có thể thiết lập một chính sách rõ ràng về cách dùng Internet khi kết nối với VPN như thế nào cho an toàn.

10. Bảo mật mạng không dây từ xa.

Các nhân viên làm việc ở nhà thường sử dụng laptop kết nối tới cáp hay modem DSL qua điểm truy cập không dây riêng của họ.

Đáng tiếc, nhiều router không dây chẳng bao giờ được cấu hình an toàn. Chúng chỉ đơn thuần được kết nối và bật lên sử dụng. Hãy hướng dẫn nhân viên cách cấu hình router không dây, các máy tính WPA với một khoá “tiền chia sẻ”, cách cấu hình tường lửa cá nhân và giải thích cho họ biết tầm quan trọng của bảo mật mạng tại nhà.

Duy trì bảo mật mạng đòi hỏi luôn phải có sự cảnh giác nhất định. Duy trì bảo mật mạng riêng ảo thậm chí còn phải cảnh giác hơn. Nhưng dựa vào 10 mẹo trên bạn có thể ít phải đối mặt với các vấn đề liên quan đến VPN hơn rất nhiều.

(st)

!!! Nhấn Ctrl-D để lưu lại trang này !!!